Bối cảnh lịch sử và hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

Đăng lúc: Thứ sáu - 05/06/2020 15:56 - Người đăng bài viết: tuyengiaocb
Cách đây hơn một thế kỷ, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc bước lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang trong mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước khỏi ách thống trị thực dân phong kiến. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu để Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trở thành lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam sau này. Sự kiện này có ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đối với tiến trình giải phóng dân tộc Việt Nam.
Bối cảnh lịch sử và hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

Bối cảnh lịch sử và hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

1. Hướng tới chân trời mới
      Cuối  thế  kỷ  XIX,  thực  dân  Pháp xâm lược Việt Nam, sau khi hoàn thành bình  định  về  quân  sự,  chúng  thi  hành chính sách “khai thác thuộc địa” hết sức tàn  bạo  đối  với  nước  ta,  gây  ra  sự  biến động to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam, làm thay đổi kết cấu giai cấp, đảo  lộn  cuộc  sống  mọi  tầng  lớp  nhân dân. Việt  Nam  từ  một nước phong kiến độc  lập  trở  thành  nước  thuộc  địa  nửa phong  kiến. Dưới  ách  cai trị  của  thực dân  Pháp,  đời  sống  các  tầng  lớp  nhân dân  ngày  càng  bị  bần  cùng  hoá.  Mâu thuẫn  giữa toàn thể nhân dân  Việt  Nam với  thực  dân  Pháp  xâm  lược  và  chế  độ thuộc  địa  ngày  một  gay  gắt,  trở  thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Bên cạnh  đó,  mâu  thuẫn giữa  nông  dân  và địa chủ ngày càng gia tăng. Những mâu thuẫn trên trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam. Đứng  trước  những  mâu  thuẫn  dân tộc và giai cấp ngày càng gay gắt, nhiều phong  trào  đấu  tranh  chống  Pháp  và phong  kiến  tay  sai  nổ ra  khắp  nơi  với nhiều xu hướng cứu nước khác nhau. Đó là  các  cuộc  khởi  nghĩa  chống thực  dân Pháp  dưới  ngọn  cờ  Cần  vương;  nhiều cuộc  khởi  nghĩa  nông  dân  diễn  ra,  điển hình  là  cuộc  khởi  nghĩa  nông  dân  Yên Thế  dưới  sự  lãnh  đạo  của  Hoàng  Hoa Thám  kéo  dài  hơn  30  năm;  phong  trào Đông  Du,  Đông  Kinh  nghĩa  thục...  do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư  tưởng  dân  chủ  tư  sản  như  Phan  Bội Châu,  Phan  Chu  Trinh  lãnh  đạo.  Đó  là trang  sử  vẻ  vang  của  dân  tộc  trên  con đường đấu  tranh giành độc lập. Mặc dù diễn ra rộng khắp cả nước, nhưng tất cả các  cuộc  đấu  tranh  đều  thất  bại.  Có  thể nói,  "Trong  suốt  gần  một  thế  kỷ  thống trị  của  thực  dân  Pháp,  phong  trào  cách mạng  giải  phóng  dân  tộc  ở  Việt  Nam không  ngừng  phát  triển,  kẻ  trước  ngã, người sau đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc  khởi  nghĩa  yêu  nước  ấy  đã  bị  dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam"(1). Hệ  tư  tưởng  phong  kiến  và  tư  sản đã hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ lịch sử  đặt  ra  là  lãnh  đạo  toàn  dân  chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc. Vì  vậy,  đến  đầu  thế  kỷ  XX,  việc tìm  ra  con  đường  cứu  nước,  giành  lại độc lập dân tộc, mở đường cho đất nước phát triển, trở thành đòi hỏi khách quan, cấp bách của dân tộc Việt Nam. Được sinh ra trong gia đình trí thức phong  kiến  có  truyền  thống  yêu  nước, Nguyễn   Tất Thành sớm  mang   trong mình  lòng  yêu  nước,  thương  dân  và  có tầm  nhìn  vượt  xa  những  “lối  mòn  cứu nước” của các bậc tiền bối. Những năm tháng  theo  cha  học  hành,  trong  đó  có thời  gian  sống  gần  Triều  đình  Huế  đã làm  cho  Người  thấy  rõ  hơn  cuộc  sống phụ thuộc,  thấp hèn của giới quan  chức phong  kiến,  tay  sai.  Từ  cuộc  sống  quan trường  lận  đận,  trắc  trở  của  người  cha, Nguyễn  Tất  Thành  càng  thấu  hiểu  ý nghĩa thực tế của câu: "Quan trường thị nô  lệ,  trung chi  nô  lệ,  hựu  nô  lệ".  Cho nên,  sau  khi  ông  Nguyễn  Sinh  Huy  bị bãi  chức  (đầu  năm  1910)  và  vào  Nam Kỳ  hành  nghề  bốc  thuốc  trị  bệnh  cứu người, còn   Nguyễn   Tất   Thành   càng nhận thức rõ hơn sự thối nát của chế độ quan trường. Thực tế này càng thôi thúc Người  quyết  tâm  ra  đi  tìm  đường  cứu nước. Trong    tác    phẩm Những mẩu chuyện về  đời  hoạt  động  của  Hồ  Chủ tịch,  Trần  Dân  Tiên  đã  viết:  "Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc  bấy  giờ,  Anh  đã  có  chí  đuổi  thực dân  Pháp,  giải  phóng  đồng  bào.  Anh tham  gia  công  tác  bí  mật,  nhận  công việc liên lạc"(2). Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con  đường  cứu  nước  thành  công luôn là  công  việc  hết  sức  khó  khăn. Bởi  lẽ,  bọn  thực  dân  bưng  bít  mọi thông  tin,  ngăn  cản  những  tư  tưởng tiên tiến, cấm du nhập sách báo tiến bộ hòng  giam  hãm  dân  ta  trong vòng  nô lệ.  Người  đã nói  với  nhà  báo  Liên  Xô Ôxip Manđenxtam: "Khi tôi độ mười ba tuổi,  lần  đầu  tiên  tôi  được  nghe  ba  chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng  tôi,  người  da  trắng  nào  cũng  là người  Pháp.  Người  Pháp  đã  nói  thế... Nhưng   trong   những   trường   học   cho người  bản  xứ,  bọn  Pháp  dạy  người  như dạy  con  vẹt.  Chúng  giấu  không  cho người  nước  tôi  xem  sách  báo.  Không phải  chỉ  sách  của  các  nhà  văn  mới,  mà cả  Rútxô  và  Môngtexkiơ  cũng  bị  cấm. Vậy  thì  phải  làm  thế  nào  bây  giờ?  Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài"(3). Trong   quá   trình   xác   định   con đường  cứu  một  dân  tộc,  lòng  căm  thù giặc và quyết tâm chưa đủ, mà còn phải lý  giải  được  nguyên  nhân  thất  bại  của các bậc tiền bối, hiểu được điều kiện chủ quan  và  khách  quan  của  bối  cảnh  lịch sử,  trên  cơ  sở  đó mà  vạch  ra  hướng  đi của  con  đường  cũng  như  những  yếu  tố đảm bảo thắng lợi. Trước  thất  bại  liên  tiếp  về  con đường  cứu  nước  của  các  bậc  tiền  bối, Người nhận xét: "Cụ  Phan  Chu  Trinh  chỉ  yêu  cầu người  Pháp  thực  hiện  cải  lương...  Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ  Phan  Bội  Châu  hy  vọng  Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ  Hoàng  Hoa  Thám  còn  thực  tế hơn,  vì  còn  trực  tiếp  đấu  tranh  chống Pháp.  Nhưng  theo  người  ta  kể thì  Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến"(4). Câu hỏi đặt ra cho dân tộc ta: Ai là người  lãnh  đạo  thành  công  nhiệm  vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam? đến lúc này vẫn chưa có lời giải. Bối  cảnh  trên  đây,  sau  này  được Hồ  Chí  Minh  nói  rõ  khi  trả  lời  nhà  văn Mỹ  Anna Luy Xtơrông: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc  này  thường  tự  hỏi  nhau  ai  sẽ  là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của  Pháp.  Người  này  nghĩ  là  Anh,  có người lại cho là Mỹ"(5)!? Từ những trải nghiệm cuộc sống và với  trí  tuệ  vượt  trội,  Hồ  Chí  Minh  đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước  Pháp:  "Tự  do - Bình  đẳng - Bác ái",  muốn  biết  cái  gì  bí  mật  ẩn  náu  ở nước  Pháp  xa  xôi!.  Người  cho  rằng: "Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!". Chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và sự tìm hiểu của Nguyễn Tất Thành về nước Pháp đã thôi thúc Người đi tìm đường cứu nước. Đây không phải là  hành  động  ngẫu  nhiên,  tự  phát  mà  là sự  lựa  chọn  sáng  suốt,  một quyết  tâm lớn  đáp  ứng  đòi  hỏi  khách  quan  của cách  mạng  Việt  Nam.  Quyết  định  sang phương   Tây   của   Nguyễn   Tất   Thành cũng  chính  là  phủ  nhận  về  mặt  ý  thức nhà  nước  thực  dân  nửa  phong  kiến  ở Việt Nam, là việc mở cửa ra thế giới để đón  nhận  những  nhân  tố  mới  của thời đại,  tiếp  thu  lý  luận  tiên  tiến,  tích  hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước.

Người  thanh  niên  yêu  nước  Nguyễn  Tất  Thành - Nguyễn  Ái  Quốc
bước  lên  con  tàu  Amiran  Latusơ  Tơrêvin  sang  phương Tây
2. Nhận ra con đường sáng
      Khi   rời   Tổ   quốc,   Nguyễn   Tất Thành - Nguyễn  Ái  Quốc  mặc  dù  có quyết  tâm  cao,  nhưng  sự  hiểu  biết  về thế  giới  chưa  nhiều.  Từng  bước  một, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập lý luận  và  hoạt  động  xã  hội,  Nguyễn  Ái Quốc dần dần hiểu rõ bối cảnh của thế giới  và  xác  định  được  hành  trình  con đường cứu nước.  Trong hành trình cứu nước, lúc đầu Người  làm  nghề  phụ  bếp,  rồi  sau  đó  là công nhân  trên  tàu  buôn  Pháp.  Nhờ  đó, Người  có  dịp  qua  nhiều  quốc  gia  như: Singapo,  Côlômbô,  Aicập,  Pháp,  Tây Ban    Nha,    Bồ    Đào    Nha, Angiêri, Tuynidi,  Cônggô,  Đahômây,  Mỹ.  Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ, sau  đó  sang  Anh.  Tại  đây,  Người  làm nghề  đốt  lò,  quét  tuyết,  phục  vụ  khách sạn.   Bất   kỳ hoàn   cảnh   nào, Người thường  xuyên  chú  ý  tìm  hiểu  đời  sống và  gần  gũi  với  người  lao  động.  Người rất  xúc  động  trước  điều  kiện  sống  cực khổ và bị đàn áp của người da đen. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người  dân thuộc  địa  làm  thuê,  Người dần dần nhận ra một điều: ở đâu cũng có người  nghèo  và  sự  giàu  nghèo  không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao  động  ở  đâu  cũng  khổ  cực  và  biết thương yêu nhau. Cuối  năm  1917,  Người  từ  Anh  trở lại  Pháp,  vừa  tiếp  tục  lao  động  kiếm sống,  vừa  tích  cực  tham  gia  hoạt  động chính trị, xã hội. Người liên hệ chặt chẽ với  công  nhân  Pháp,  những  đại  biểu thuộc địa và những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là thời kỳ hoạt động sôi  nổi  và  có  hiệu  quả  trong  hành  trình tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam. Đầu năm 1919, Người vào Đảng Xã hội Pháp  chỉ  vì  đây  là  tổ  chức  duy  nhất  ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách  mạng  Pháp:  “Tự  do,  Bình  đẳng, Bác  ái”(6).  Giữa  năm  1919,  Người  thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp  gửi Bản  yêu  sách  tám  điểm của nhân dân An Nam tới Hội nghị các nước đế  quốc  họp  tại  Vécxây  (Versailles). Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối   thiểu   trong   khuôn   khổ   cải   cách, nhưng  đã  không  nhận  được  câu  trả  lời. Từ  thực  tế  ấy,  Người  kết  luận:  "Muốn được giải phóng,  các  dân  tộc  chỉ  có thể trông  cậy  vào  mình,  trông  cậy  vào  lực lượng  của  bản  thân  mình"(7) .  Thực  tế trên đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm bối cảnh khách quan  mà hành trình cứu nước không thể bỏ qua. Sự  kiện  cực  kỳ  quan  trọng  làm chuyển   biến   cơ   bản   nhận   thức   con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Người  là  khi  đọc  bản Sơ  thảo  lần  thứ nhất  những  luận cương  về  vấn  đề  dân tộc  và  vấn  đề  thuộc  địa của  V.I. Lênin đăng  trên  báo Nhân  đạo (L’Humanité) tháng  7/1920. Luận  cương đã  mang  lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng  giải  phóng  dân  tộc  ở  một  nước thuộc  địa.  Khẳng  định  ý  nghĩa  to  lớn của Luận  cương trong  hành  trình  tìm  ra con đường cứu nước, Người viết: "Luận cương  của  Lênin  làm  cho  tôi  rất  cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói  to  lên  như  đang  nói  trước  quần chúng  đông  đảo:  "Hỡi  đồng  bào  bị  đọa đày  đau  khổ!  Đây  là  cái  cần  thiết  cho chúng  ta,  đây  là  con  đường  giải  phóng chúng  ta"(8).  Cho  đến  cuối  đời,  Hồ  Chí Minh  càng  trung  thành  với  con  đường độc lập dân tộc bao nhiêu, thì càng trung thành bấy nhiêu với những lý luận Lênin viết trong Luận cương về vấn đề dân tộc và  thuộc  địa.  Điều  này  thể  hiện  rất  rõ khi  Người  trả  lời  phỏng  vấn  nhà  báo Pháp  Sáclơ  Phuốcniô:  "Từ  ngày  Luận cương  của Lênin đã  hoàn  toàn soi  sáng cho  tôi,  tôi  không  còn  chỉ dự  các  cuộc họp  của  Đảng  một  cách  thụ  động  nữa. Tôi  lao  vào  cuộc  chiến  đấu,  hăng  hái bàn  cãi,  tiến  công  mạnh  mẽ  những  kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba"(9). Sự   kiện   được   đọc   bản Sơ   thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn  đề  thuộc  địa của  Lênin  cùng  với những   hoạt   động   sát   cánh   với   công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa, đồng bào Việt Nam trên đất Pháp... đã tạo tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc  tích  cực  thảo  luận  và  quyết  định bỏ phiếu ủng hộ Đảng gia nhập Quốc tế thứ  ba  tại  Đại  hội  lần  thứ  XVIII  Đảng Xã  hội  Pháp họp  tại  thành  phố  Tua, tháng  12/1920.  Nguyễn  Ái  Quốc  đã  trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên có  nhiều  đóng  góp  tích  cực  cho  vấn  đề giải phóng thuộc địa. Người đã tham gia dự  thảo Nghị  quyết  về  chủ  nghĩa  Cộng sản  và  các  thuộc  địa và Lời  kêu  gọi những người bản xứ ở các thuộc địa tại Đại  hội  lần  thứ  nhất  (1921)  và  lần  thứ hai (1922) Đảng Cộng sản Pháp. Với   những   sự   kiện   trên   đây, Nguyễn  Ái  Quốc  đã  từ  người  yêu  nước trở  thành  người  cộng  sản  chân  chính. Đây  cũng  là  mốc  quan  trọng  đánh  dấu việc  Nguyễn  Ái  Quốc  đã  tìm  thấy  con đường  cứu  nước.  Người  đã  hoàn  thành sứ   mạng Người   tìm   đường   cho   cách mạng Việt Nam. Tìm  ra  con  đường  cứu  nước  đã khó,  tiến  hành  tuyên  truyền,  vận  động quần  chúng  và  tổ  chức  thắng  lợi  đường lối ấy trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì trong  suốt  tiến  trình  thực  tế  hoá  đường lối ấy, người lãnh đạo có quyết tâm chưa đủ mà còn phải đánh giá đúng tình hình, lựa  chọn  đúng  thời  điểm,  địa  bàn "đột nội" và phải tìm được những cộng sự có thực tế và kinh nghiệm vận động tổ chức quần  chúng.  Tháng  6/1923,  trong  thư gửi  các  bạn  cùng  hoạt  động  ở  Pháp, Nguyễn  Ái  Quốc  phác  họa  công  việc của mình khi trở về Tổ quốc là: "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào  quần  chúng,  thức  tỉnh  họ,  tổ  chức họ,  đoàn  kết  họ,  huấn  luyện  họ,  đưa  họ ra đấu tranh giành tự do độc lập"(10). Tuy nhiên,  con  đường  ấy  còn  nhiều  gian truân.  Người  đã  trải  qua  nhiều  công việc,  hoạt  động  ở  nhiều  quốc  gia  như nghiên  cứu  lý  luận  tại  Trường  Đại  học Phương Đông, dự nhiều hội nghị quốc tế tại  Liên  Xô,  làm  cán  bộ  Ban  Phương Đông  Quốc  tế  Cộng  sản  và  nhiều  năm làm phiên dịch trong Phái bộ Bôrôđin tại Trung  Quốc  (1924-1927).  Cũng  trong thời gian này, tại Quảng Châu, Người đã thành  lập  Hội  Việt  Nam  Cách  mạng Thanh niên - Tổ  chức  tiền  thân  của Đảng  Cộng  sản  Việt  Nam.  Giữa  năm 1927,  Người  trở  lại  Liên  Xô,  thực  hiện nhiệm  vụ  do  Quốc  tế  Cộng  sản  giao  ở Pháp,  Bỉ,  Đức,  Thụy  Sĩ,  Italia  rồi  về Xiêm (Thái Lan), Trung Quốc. Đầu năm 1930   tại   Hồng   Kông   (Trung   Quốc), Người  đã  chủ  trì  Hội  nghị  thành  lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng tại đây, từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Người bị  thực  dân  Anh  bắt  giam.  Đầu  năm 1934,  sau  khi  thoát  tù,  Người  trở  lại Liên  Xô  học  Trường  Quốc  tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các  vấn đề  dân  tộc  và  thuộc  địa  (thuộc Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản). Thành   công   nổi   bật   trong   hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nhận thức và giải quyết thỏa  đáng  mối  quan  hệ  dân  tộc  và  giai cấp - vấn đề quan trọng và nhạy cảm mà ngay Quốc tế Cộng sản cũng có lúc mắc sai  lầm.  Người  rất  chú  ý  đặc  điểm  và truyền  thống  dân  tộc,  nhưng  không  vì thế mà xa rời lập trường giai cấp. Những luận điểm sáng tạo về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng  thuộc  địa  còn  được  thể  hiện rõ trong nhiều bài báo, đặc biệt trong tham luận  của  Người  được  trình  bày  tại  Đại hội V của Quốc tế Cộng sản năm 1924. Trong  bối  cảnh  Quốc  tế  Cộng  sản  chịu ảnh  hưởng  sâu  sắc  của  trào  lưu  "tả" khuynh,  biệt  phái  từ  sau  khi  Lênin  qua đời  (1924),  nhất  là  sau Đại  hội  VI  của Quốc  tế  Cộng  sản  (1928),  Người  vẫn kiên trì học tập lý luận và thường xuyên bắt  liên  lạc  với  Ban  Chấp  hành  Trung ương  Đảng  ở  trong  nước,  lập  kế  hoạch về  nước  thực  thi  con  đường  cứu  nước, giải phóng dân tộc.
      Nét  đặc  sắc  nhất  cuộc  hành  trình cứu  nước  30  năm  là  không  bao  giờ Nguyễn  Ái  Quốc  xa  rời  mục  đích  về nước  cứu  đồng  bào.  Khi  ở  Liên  Xô  dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, Người   nói   với   nhà   văn   Liên   Xô   I. Êrenbua:  "Tôi  chỉ  có  một  mong  ước  là sớm  trở  và  Tổ  quốc"(11).  Khi  hoạt  động trong Bát  lộ  quân  Trung  Quốc,  Người vẫn  bí  mật  liên  lạc  với  Ban  lãnh  đạo Đảng trong nước khẩn trương xây dựng căn  cứ  địa  vùng  biên  giới  Việt  Trung. Cuối  tháng  6/1940,  ngay  sau  khi  Pháp đầu hàng phátxít Đức, Người chỉ thị gấp cho   đồng   chí   Phạm   Văn   Đồng,  Võ Nguyên Giáp  không   đi   học  Trường Quân  chính  của  Đảng  Cộng  sản  Trung Quốc  tại  Diên  An  nữa,  mà  cùng  các đồng  chí  Phùng  Chí  Kiên,  Vũ  Anh  đi Quế   Lâm,   Nam   Ninh   (Quảng   Tây) hướng  về  Cao  Bằng  đón  thời  cơ  mới. Đầu  năm  1941,  sau  30  năm  bôn  ba  tìm đường   cứu   nước,   Hồ   Chí   Minh   kết thúc Hành  trình  cứu  nước,  trở  về  vùng rừng  núi  Cao  Bằng - địa  đầu  Tổ  quốc trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta thực hành đường  lối  cứu  nước  mới,  mở  ra  giai đoạn  mới  trong  công  cuộc  giải  phóng dân tộc Việt Nam.
-----------------------
(1)  Hồ  Chí  Minh:Toàn tập,  t.9,  NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.314. (2),(4),(6),(7)  Trần  Dân  Tiên: Những mẩu  chuyện  về  đời  hoạt  động  của  Hồ  Chủ tịch,  NXB  Chính  trị  quốc  gia,  Hà  Nội, 1994, tr.12, 12, 41-42, 31. (3),(10)  Hồ  Chí  Minh: Toàn  tập,  t1, Sđd, tr.477, 192.
(5) Hồ  Chí  Minh  Biên  niên  tiểu  sử, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006,  tr.41.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.127.
(9) Sđd, t.12, tr.471. (11) Hồ  Chí  Minh  Biên  niên  tiểu  sử, Sđd, t.2, tr.63.  PGS,TS.
 

Tác giả bài viết: Lê Văn Tích - Tạp chí Lý luận chính trị
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Video hoạt động

12 tiêu chí hình mẫu Thanh niên Việt Nam thời kỳ mớig (video) : 1234

12 tiêu chí hình mẫu Thanh niên Việt Nam thời kỳ mới

Ảnh hoạt động

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 2151

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 28245

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3976615